Showing posts with label xa-hoi. Show all posts
Showing posts with label xa-hoi. Show all posts
Phát hiện thiên hà sáng nhất từ trước đến nay

Phát hiện thiên hà sáng nhất từ trước đến nay

Các nhà khoa học Mỹ phát hiện thiên hà sáng nhất từ trước đến nay, với luồng ánh sáng sáng gấp 300 nghìn tỷ lần so với Mặt Trời.

wise-nasa-luminousgalaxy-si-2519-1432348
Mô phỏng thiên hà WISE J224607.57-052635.0. Ảnh: NASA
Cơ quan Hàng không Vũ trụ Mỹ (NASA) phát hiện thiên hà WISE J224607.57-052635.0 nhờ kính viễn vọng không gian WISE. Các nhà khoa học nhận định nó có độ sáng gấp 300 nghìn tỷ lần Mặt Trời. Trung tâm của thiên hà là một lỗ đen lớn.
"Chúng tôi đang theo dõi quá trình chuyển động rất mạnh của thiên hà. Nguồn ánh sáng khổng lồ có thể xuất phát từ hoạt động của lỗ đen ở trung tâm", nhà nghiên cứu Chao-Wei Tsai của NASA nói. Các lỗ đen khổng lồ hút khí và vật chất vào vùng đĩa xung quanh chúng, làm gia tăng sức nóng. Ở nhiệt độ cao hàng triệu độ, nó bùng nổ và phát ra ánh sáng, tia cực tím, tia X.
Theo ABC News, việc phát hiện một thiên hà xa xôi như WISE J224607.57-052635.0 là một điều rất hiếm. Nó cách Trái Đất khoảng 12,5 tỷ năm ánh sáng.
Qua nghiên cứu hố đen, các nhà khoa học hy vọng có thể tìm hiểu thêm về lịch sử của vũ trụ.
Anh Hoàn
g
Đưa gạo Việt Nam trở thành thương hiệu hàng đầu thế giới

Đưa gạo Việt Nam trở thành thương hiệu hàng đầu thế giới

Thủ tướng Chính phủ vừa phê duyệt Đề án phát triển thương hiệu gạo Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030. Theo đó, đến năm 2030, gạo Việt Nam trở thành thương hiệu hàng đầu thế giới về chất lượng, an toàn thực phẩm.
Ảnh minh họa
Phấn đấu đạt 50% sản lượng gạo xuất khẩu mang thương hiệu Việt Nam
Mục tiêu chung của Đề án trên là xây dựng thương hiệu gạo Việt Nam nhằm định vị giá trị, hình ảnh sản phẩm gạo Việt Nam, nâng cao sự nhận biết của các nhà sản xuất, nhập khẩu, phân phối và người tiêu dùng trong nước và ngoài nước đối với các sản phẩm gạo của Việt Nam, tạo cơ sở để củng cố và phát triển thị trường, nâng cao giá trị gia tăng, thị phần và sức cạnh tranh của sản phẩm gạo Việt Nam trên thị trường thế giới.
Đề án phấn đấu đến năm 2020 hình ảnh gạo Việt Nam được quảng bá, giới thiệu rộng rãi trong nước và đến ít nhất 20 thị trường xuất khẩu; thương hiệu gạo quốc gia được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ dưới hình thức nhãn hiệu chứng nhận tại Việt Nam và ít nhất 50 quốc gia; phấn đấu đạt 20% sản lượng gạo xuất khẩu mang thương hiệu gạo Việt Nam.
Đến năm 2030, các vùng sản xuất lúa gạo xuất khẩu ổn định, hiệu quả và bền vững, đưa gạo Việt Nam trở thành thương hiệu hàng đầu thế giới về chất lượng, an toàn thực phẩm; phấn đấu đạt 50% sản lượng gạo xuất khẩu mang thương hiệu gạo Việt Nam, trong đó 30% tổng sản lượng gạo xuất khẩu là nhóm gạo thơm và gạo đặc sản.
Phát triển thương hiệu vùng, địa phương, DN
Để đạt được những mục tiêu trên, Đề án sẽ thực hiện nâng cao hình ảnh, giá trị thương hiệu gạo Việt Nam; phát triển thương hiệu gạo quốc gia; phát triển thương hiệu gạo vùng, địa phương; phát triển thương hiệu doanh nghiệp, nhãn hiệu sản phẩm gạo...
Cụ thể, Đề án sẽ tổ chức hoạt động đồng bộ nhằm quảng bá, giới thiệu hình ảnh thương hiệu gạo Việt Nam đến doanh nghiệp, người tiêu dùng tại thị trường trong nước và quốc tế thông qua nhiều hoạt động; thúc đẩy các địa phương, tổ chức, doanh nghiệp xây dựng, phát triển thương hiệu gạo vùng, địa phương và thương hiệu doanh nghiệp, sản phẩm gạo đạt các tiêu chí thương hiệu gạo quốc gia.
Hỗ trợ DN sử dụng thương hiệu gạo quốc gia
Đồng thời, xây dựng các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp sử dụng thương hiệu gạo quốc gia trong xây dựng vùng nguyên liệu, liên kết chuỗi giá trị, nâng cao chất lượng giống, công nghệ hỗ trợ, quản lý chất lượng, xây dựng các tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm gạo; xây dựng và phát triển các thương hiệu gạo vùng, địa phương cho các sản phẩm gạo đặc sản, giống địa phương, phù hợp với định hướng thương hiệu gạo quốc gia.
Ưu tiên lựa chọn 3 giống đặc sản tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long để hỗ trợ xây dựng, phát triển thành thương hiệu gạo vùng, địa phương hướng tới trở thành thương hiệu gạo quốc gia.
Phương Nhi
Người cuối cùng trồng dưa hấu trên “đảo Mai An Tiêm”

Người cuối cùng trồng dưa hấu trên “đảo Mai An Tiêm”

Vùng đất dưa hấu xưa
Theo truyền thuyết, vùng đất ven biển huyện Nga Sơn (Thanh Hóa) xưa kia là một biển nước ngập mênh mông, có hòn đảo hoang. Mai An Tiêm chính là người đã có công khai phá hòn đảo hoang này. Ngày nay đảo hoang chính là vùng đất thuộc hai xã là Nga Phú và Nga An của huyện Nga Sơn.
Ông Hoàng Văn Huê, người trồng và lưu giữ giống dưa hấu đặc sản của vùng đất Nga Sơn.
Ông Hoàng Văn Huê, người trồng và lưu giữ giống dưa hấu đặc sản của vùng đất Nga Sơn.
Khoảng 30 - 40 năm trước, xã Nga Phú và Nga An là hai nơi trồng và chuyên canh cây dưa hấu nhiều nhất ở đất Nga Sơn. Ngoài lúa thì dưa hấu được coi là cây trồng chính đem lại nguồn thu nhập chủ yếu của người dân. Vùng dưa hấu ở đây trải dài và rộng khắp, có thời điểm được coi là nhiều nhất cả nước.
Theo như lời kể của các cụ cao niên trong vùng, xưa kia hầu như gia đình nào cũng trồng dưa hấu. Cứ đến mùa, thương lái từ các vùng khác lại đến thu mua tấp nập. Dưa hấu của Nga Sơn có vị ngon, ngọt hơn so với các loại dưa ở nơi khác. Sở dĩ có vị khác biệt này là do đất trồng dưa ở đây là đất cát pha. Trên loại đất này cây dưa hấu phát triển tốt, quả dưa to, lượng nước và lượng đường vừa đủ, làm cho dưa thơm ngon.
Chỉ tay về cánh đồng mẫu lớn của xã Nga An, ông Hoàng Văn Huê (67 tuổi) xóm 8 nói: “Cả một vùng rộng lớn này hơn 30 năm trước đều trồng toàn là dưa hấu. Nay người dân trồng ngô, lạc, đậu tương hết rồi, không còn gia đình nào trồng dưa hấu cả”.
Ông Huê hướng dẫn cách chăm sóc dưa khi mới trồng.
Ông Huê hướng dẫn cách chăm sóc dưa khi mới trồng.
Lí do khiến người dân nơi đây "lạnh nhạt" với cây dưa hấu được ông Phạm Văn Tuấn, Phó Chủ tịch kinh tế xã Nga An, lý giải: “Sau khi chuyển đổi đưa một số loại cây công nghiệp ngắn ngày khác vào thâm canh sản xuất cho năng suất cao. Cây dưa hấu đã không cạnh tranh được với các loại cây này nên người dân đã không chọn để trồng. Cũng một phần do trên thị trường có nhiều loại dưa hấu khác cạnh tranh làm cho giá cả giảm xuống khiến người dân trồng dưa bị thua lỗ rồi bỏ không trồng dưa nữa”.
Theo ông Tuấn, hiện xã đang tìm hiểu và gây dựng lại cây dưa hấu trên vùng đất này. Xã đã chọn gia đình ông Huê ở xóm 8 làm hộ trồng điểm.
Lão nông cả một đời gắn bó với dưa hấu
Sinh ra trên vùng đất dưa hấu, từ khi còn nhỏ thấy bố mẹ và người dân trong làng trồng nhiều dưa nên hình ảnh cây dưa hấu đã in sâu vào trong tâm trí ông Hoàng Văn Huê, xóm 8, xã Nga An.
 
Lớn lên lập gia đình, sau nhiều năm bôn ba lao động ông Huê trở về lập nghiệp bằng nghề trồng dưa trên chính mảnh đất quê hương mình. Hơn 40 năm qua, ông Huê chỉ trồng mỗi cây dưa hấu trên đất nông nghiệp của gia đình. Hiện nay, ông cũng là người duy nhất trồng và lưu giữ giống dưa hấu “Mai An Tiêm” - đặc sản của quê nhà.
Gặp chúng tôi ông Huê tâm sự: “Vùng đất Nga Sơn được nhiều người biết đến và nổi tiếng là từ cây dưa hấu trong truyền thuyết Mai An Tiêm. Từ nhỏ cây dưa đã gắn liền với tôi nên khi lớn lên mình phải cố gắng làm sao giữ lấy đặc sản quê mình này. Vùng đất cát ở đây rất phù hợp với dưa hấu, không nơi đâu trồng dưa cho quả to, ruột đỏ, có hương vị thơm, nhất là hàm lượng đường trong quả dưa ngọt riêng biệt như đất ở Nga Sơn”.
Dù thu nhập từ trồng dưa không cao nhưng những năm qua, chưa năm nào ông Huê bỏ trồng một vụ. Không chỉ ông mà cả gia đình, vợ và con ông cũng luôn ủng hộ và tham gia giúp ông trồng dưa. Ông Huê luôn tìm tòi để làm sao cho giống dưa nâng cao được chất lượng cũng như sản lượng. Đến nay diện tích trồng dưa của gia đình ông không ngừng tăng lên. Lúc đầu khi mới trồng diện tích dưa của ông chỉ chưa đến một sào, đất của gia đình không đủ ông Huê đã đi thuê và mượn đất ở xã Nga Thành để mở rộng diện tích trồng dưa.
Mới đây nhất, ông Huê đã đứng ra nhận thầu và canh tác trên khu đất được bỏ hoang từ lâu của xã Nga An. Hơn hai tháng từ ngày ông Huê đến canh tác khu đất này, từ một diện tích đất cỏ hoang mọc tràn lan, đất bị nổ, nhiễm phèn cao qua bàn tay ông giờ đã biến thành một trang trại phủ kín màu xanh của dưa…
 
Ông Huê tự tin: “Vụ nào gia đình tôi cũng trồng trên 5 sào nhưng chưa năm nào phải đem dưa ra chợ bán lẻ cả. Cứ đến vụ là thương lái đến thu mua hết. Cái khó của tôi bây giờ là do mới lập thêm trang trại, vốn đầu tư vô đây mất nhiều, gia đình phải tự cung tự cấp nên hơi khó khăn. Mình dám nghĩ, dám làm, dám ăn… Không có tiền để đầu tư trồng dưa dù có đi vay tôi vẫn cố gắng”.
Thái Bá - Duy Tuyên
NGƯỜI LÍNH BẮT SỐNG TƯỚNG ĐỜ CÁT BÂY GIỜ THẾ NÀO

NGƯỜI LÍNH BẮT SỐNG TƯỚNG ĐỜ CÁT BÂY GIỜ THẾ NÀO

Ở vùng đất cói Nga Sơn có một người lính, một nhân chứng lịch sử quan trọng trong chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954.
Ông Đào Văn Hiếu hào hứng kể lại chiến tích bắt giữ Đờ Cát.
Ông Đào Văn Hiếu hào hứng kể lại chiến tích bắt giữ Đờ Cát.
Được kết nạp Đảng sau chiều định mệnh
Trong cái nắng gay gắt của tiết trời tháng 4, chúng tôi đã vượt gần 50km từ TP. Thanh Hóa về thôn 8, xã Nga Hưng, huyện Nga Sơn (Thanh Hóa) gặp một nhân chứng lịch sử đã tham gia bắt sống tướng Đờ Cát vào chiều ngày 7/5/1954. Đó là Tiểu đoàn trưởng Đào Văn Hiếu.
Bước vào cổng nhà, chúng tôi không ngờ ông Hiếu ở cái tuổi đời 80 (58 tuổi Đảng, 24 tuổi quân) trông vẫn khá khỏe khoắn, nước da ngăm đen.
Ông Đào Văn Hiếu-một nhân chứng lịch sử trong chiến dịch Điện Biên Phủ 1954.
Ông Đào Văn Hiếu-một nhân chứng lịch sử trong chiến dịch Điện Biên Phủ 1954.
Xuất thân từ một gia đình nông dân, nhà có hai anh em, ông Hiếu là anh trai đầu. Lớn lên thấy cảnh thực dân Pháp xâm lược, đàn áp bà con, ông Hiếu quyết tâm sẽ chiến đấu để rửa thù.
Cơ hội đến khi năm 1949 ông Hiếu tham gia du kích tại Hói Đào – xã Tân Đức (nay là xã Nga Thanh và xã Nga Liên, huyện Nga Sơn), rồi đến tháng 8/1950 tham gia nhập ngũ vào Trung đoàn 44 đóng tại Nông Cống - Thanh Hóa. Sau một năm huấn luyện, ông được chuyển vào Đại đội 360, Tiểu đoàn 130, Trung đoàn 209 thuộc Đại đoàn 312.
Vào chiến trường ông lần lượt tham gia các chiến dịch: Chiến dịch Hòa Bình (1952), Chiến dịch Tây Bắc Lào lần 2 (1952), Chiến dịch Thượng Lào (1953) và Chiến dịch Điện Biên Phủ (1954).
Ngày đầu tiên tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ của ông Hiếu là đánh vào cứ điểm Him Lam rồi đến các cứ điểm E1, D2, 105A, 106. Cả đơn vị của ông lúc đó có hơn 160 người. Tất cả anh em đồng đội kề vai sát cánh đánh cho đến ngày thứ 56 lịch sử.
Ông Hiếu chia sẻ về những năm tháng hào hùng: "Cuộc sống của người lính vất vả lắm, 56 ngày đêm không tắm rửa, ăn mặc rách rưới, thức ăn chỉ có rau muống khô, măng khoai, nếu có lắm thì được miếng thịt trâu khô là sướng rồi. Có khi cơm trộn bùn cũng phải ăn... Đời lính vất vả là thế nhưng những hình ảnh về người lính cụ Hồ vẫn hiên ngang và tỏa sáng. Càng trong lúc mưa bom bão đạn càng quyết tâm giết giặc, đó là tinh thần của người lính Việt Nam ta. Đã là bộ đội là phải đánh giặc, đánh giặc là nhiệm vụ cao cả".
Ông Hiếu kể chuyện sang sảng trong căn nhà nhỏ 3 gian khiến chúng tôi như được ngược dòng lịch sử gặp những người lính anh dũng năm nào.
Ông Đào Văn Hiếu và các em nhỏ tại bản Phù Nông, Phú Yên.
Ông Đào Văn Hiếu và các em nhỏ tại bản Phù Nông, Phú Yên.
Ông Hiếu nhớ lại: "Trong trận đánh ấy, quân ta hy sinh rất nhiều. Đơn vị của chúng tôi nhận được lệnh đánh từ đêm mùng 6/5. Đánh ròng rã suốt đêm đến 8h sáng ngày 7/5 chúng tôi lại nhận được lệnh của Bộ chỉ huy là phải nhanh chóng triệu quân đánh tiếp. Nhiệm vụ của đơn vị tôi là mở đường vây 209 đánh thẳng vào Mường Thanh bắt sống tướng Đờ Cát, lập công mừng sinh nhật Bác Hồ và trả thù cho đồng đội, trả thù cho nhân dân Điện Biên Phủ. Sau khi nhận được lệnh, Đại đội trưởng Tạ Quốc Luật nhanh chóng dồn quân, lúc này cả chỉ huy và lính chỉ còn vẻn vẹn 34 người tiếp tục đánh vào Mường Thanh tiêu diệt cơ quan đầu não địch. Đánh từ 8h sáng đến 4h chiều ngày 7/5 thì còn lại được 5 người...".
Nói đến đây ông Hiếu thở dài và lặng im trong chốc lát, rồi ông cho hay 5 người may mắn sống sót đó là Đại đội trưởng Tạ Quốc Luật (quê ở Thái Bình), Nghĩa Lam (quê ở Nghệ An), Hoàng Đặng Vinh (quê ở Hải Hưng), Bùi Văn Nhỏ (quê ở Nghệ An) và ông.
Khi đến cầu Mường Thanh thì cả 5 người bị khẩu 14 ly 5 (loại 4 nòng) của địch bắn chắn ngay cầu không cho sang. Nhưng sau đó, được sự hỗ trợ hỏa lực từ khẩu DKZ và một khẩu đại liên của quân ta bắn trả, rất nhanh cả 5 người lọt sang qua cầu và tiến vào khu vực được coi là trung tâm đầu não của địch. Nhiệm vụ của 5 người lúc này là tìm và bắt sống tướng Đờ Cát.
Ông Hiếu kể tỉ mỉ từng chi tiết buổi chiều định mệnh: "Trong lúc khói đạn mịt mù, không biết tìm căn cứ ẩn nấp của tướng Đờ Cát ở đâu thì may thay chúng tôi bắt được một tên lính Pháp và bắt nó chỉ điểm sở chỉ huy. Theo hướng tay của tên lính, chúng tôi thấy một ụ đất cao nằm ở phía Tây, xung quanh kín mít.
"Hiếu, Lam tấn công cửa phía bắc, Luật, Vinh và Nhỏ tấn cống cửa phía nam, dùng lựu đạn, thủ pháo và tiểu liên tiêu diệt hai ụ pháo ở hai đầu hầm xuống bắt sống tướng Đờ Cát", câu mệnh lệnh của Đại đội trưởng Tạ Quốc Luật vừa dứt thì chúng tôi chia làm hai hướng tấn công vào sào huyệt của địch. Sau khi công phá được hai ụ pháo hai bên cửa, chúng tôi ập vào và thấy 34 sĩ quan của Pháp và tướng Đờ Cát ú ớ bất động.
Vì bọn chúng là người Pháp nên Đại đội trưởng Tạ Quốc Luật đã dùng tiếng Pháp nói với chúng đại ý là "bỏ súng xuống, dơ tay lên, các ông đầu hàng đi, các ông thua rồi". Và thế là tướng Đờ Cát cùng 34 sĩ quan Pháp dơ hai tay từ từ chui lên khỏi hầm. Áp giải tù binh được khoảng 15m chúng tôi gặp quân mình ở ngoài và giao cho chỉ huy Trung đoàn 209 và nhận lệnh quay lại tiêu diệt trận địa pháo 105 cách hầm Đờ Cát khoảng 30m. Sau khi tiêu diệt xong trận địa pháo chúng tôi reo hò trong chiến thắng, anh Luật đã lấy kẹo bánh và nước uống trong hầm Đờ Cát phát cho chúng tôi. Lúc đó niềm vui khôn tả không thể nói hết bằng lời".
Ngay sau chiến thắng oanh liệt đó, ông Hiếu đã được kết nạp Đảng và cũng mang thương tật 2/4.
Bình lặng sau chiến công hiển hách
Sau chiến dịch Điện Biên Phủ, ông Hiếu ở lại đơn vị công tác, cho đến năm 1959 mới trở về làng trong những giọt nước mắt của người mẹ già chờ con dòng dã 9 năm trời. Cưới vợ và sinh ra được 5 người con thì năm 1966 ông lại lên đường vào chiến đấu tại chiến trường B thuộc Sư đoàn 338 đóng tại Thanh Hóa. Năm 1974, ông xuất ngũ về quê bắt đầu một cuộc sống bình dị và thầm lặng.
Những ngày tháng sống ở quê nhà, ông đã không màng tới danh vọng, không cho ai biết mình là một trong 5 người đã tham gia bắt sống tướng Đờ Cát tại chiến dịch Điện Biên Phủ vang vọng một thời. Chẳng ai biết được người lính già ấy là một niềm tự hào của dân tộc Việt Nam và đồng đội chẳng ai biết "Hiếu điếc" nay đang ở đâu, còn sống hay không.
Ông Hoàng Đăng Vinh và ông Đào Văn Hiếu, hai chiến sĩ bắt sống tướng Đờ Cát gặp mặt tại Bắc Ninh năm 1999.
Ông Hoàng Đăng Vinh và ông Đào Văn Hiếu, hai chiến sĩ bắt sống tướng Đờ Cát gặp mặt tại Bắc Ninh năm 1999.
Chiến tranh đã đi qua nhưng kỷ niệm về tình đồng chí, đồng đội trong ông Hiếu không bao giờ phai nhòa, đặc biệt là trong cái buổi chiều lịch sử ngày 7/5/1954. Hòa bình được lập lại, nỗi băn khoăn đó đã được giải tỏa khi trên phương tiện truyền thông ông Hoàng Đăng Vinh nhắn tìm đồng chí Đào Văn Hiếu (tức Hiếu điếc). Thông tin đó đến được với ông Hiếu khi hội cựu chiến binh huyện Nga Sơn đến thăm hỏi và ông Hiếu chỉ cười, nói: "Phải, chính là tôi, Hiếu điếc đây".
Cuộc sống bình dị của ông Hiếu bên người vợ chung thủy.
Cuộc sống bình dị của ông Hiếu bên người vợ chung thủy.
Năm 1999, người đồng đội tham gia bắt sống tướng Đờ Cát, ông Hoàng Đăng Vinh mời ông Hiếu ra nhà chơi. Cuộc gặp gỡ sau bao nhiêu năm xa cách đã làm những người lính Điện Biên năm nào rơi lệ.
"Chúng tôi đã khóc trong tiếng gọi "Vinh lì", "Hiếu điếc". Những tháng năm gian truân đã đi qua, lịch sử đã khép lại, 5 người chúng tôi ngày ấy đến bây giờ gặp lại chỉ còn tôi và anh Vinh. Đại đội trưởng Tạ Quốc Luật và anh Bùi Văn Nhỏ đã không còn. Hiện nay thông tin về Nguyễn Lam vẫn đang còn mù mịt...".
Giờ đây, ông Hiếu và ông Vinh mỗi người sống mỗi nơi nhưng họ vẫn thường xuyên liên lạc với nhau để nối lại tình đồng chí, đồng đội như ngày nào tham gia chiến tuyến. Mái tóc của hai người lính ấy đã ngả màu bạc nhưng đối với họ năm tháng lịch sử hào hùng ấy vẫn sống động như hôm qua.
(theo: kienthuc.net.vn)